r

"65 NĂM TRUYỀN THỐNG CÔNG NHÂN CÔNG TY THAN MẠO KHÊ" - Phần 10.

Thứ ba - 05/11/2019 10:50
CHƯƠNG IX
CÔNG TY THAN MẠO KHÊ -
KẾT QUẢ ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC NHỮNG NĂM ĐẦU
CUẢ THIÊN NIÊN KỶ MỚI (2001-2004)
 
Toàn cảnh Đại hội lần thứ XXVII Đảng bộ Công ty Than Mạo Khê nhiệm kỳ 2003-2005.
 
Năm 2001, năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX của Đảng. Tình hình kinh tế nước ta ổn định, toàn ngành than với ý chí kỷ luật và đồng tâm đã vượt qua khó khăn thử thách, tiếp tục khẳng định vị thế của mình trong nền kinh tế quốc dân.
Tháng 9-2000, Đảng bộ mỏ than Mạo Khê tiến hành Đại hội Đảng bộ lần thứ 26. Đại hội đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh của mỏ, nói rõ những khó khăn và thuận lợi trước mắt trên cơ sở đó đề ra mục tiêu trong những năm 2001-2002 là: “Lãnh đạo hoàn thành xuất sắc các mục tiêu sản xuất kinh doanh, đảm bảo đủ việc làm ổn định thu nhập, đời sống cán bộ công nhân viên từng bước được cải thiện và chuẩn bị tốt để mỏ có thể mở rộng phát triển được khi có điều kiện”. Đại hội đề ra 5 biện pháp chủ yếu đẩy mạnh sản xuất.
Quá trình thực hiện kế" hoạch năm 2001, mỏ than Mạo Khê có một số thay đổi: Ngày 16-10-2001 Hội đồng quản trị Tổng Công ty than Việt Nam quyết định: Đổi tên Mỏ than Mạo Khê thành Công ty than Mạo Khê.
Tháng 1-2003, Đảng bộ Công ty than Mạo Khê đại hội lần thứ 27 tiếp tục đề ra mục tiêu cho những năm sau là: “Hoàn thành các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh, bảo đảm nguồn vốn. Chuẩn bị nguồn nhân lực bảo đảm yêu cầu nhiệm vụ. Từng bước áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất, mở rộng đầu tư phát triển, cải thiện điều kiện làm việc, tăng cường công tác an toàn, bảo hộ lao động, bảo vệ môi trường, ổn định việc làm, tăng thu nhập, nâng cao dần đời sống công nhân viên chức, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội...”. Đại hội đề ra 6 giải pháp để thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ đề ra.
Thực hiện chủ trương của Tổng Công ty than Việt Nam và chủ trương của Đảng bộ: “Từng bước áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất”, Công ty tiếp tục thực hiện đổi mới công nghệ trong khai thác. Để thực hiện được thuận lợi, Công ty tổ chức Hội nghị sơ kết việc thí điểm chống cột thuỷ lực đơn, Hội nghị kết luận: Việc thí điểm chống cột thuỷ lực đơn ở phân xưởng khai thác KT4 sau 2 năm mỏ đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm để tiếp tục triển khai tại phân xưởng KT5 và KT9. ở phân xưởng KT4, sau 2 tháng mới ổn định thì tại KT5 và KT9 chỉ sau 10 ngày cán bộ công nhân đã thao tác thành thạo. Đặc biệt ở KT9 đã đạt kỷ lục lò chợ bình quân 450 tấn/ngày. Qua thực tế sơ kết, đánh giá bước đầu áp dụng cột thuỷ lực đơn vào khai thác than hầm lò ở Công ty đã mang lại hiệu quả kinh tế cao: Có lò chợ, cột thuỷ lực đơn qua sử dụng 3 năm vẫn còn tốt (như phân xưởng KT4), làm lợi 6,5 triệu đồng/1.000 tấn than. Giữ được ổn định chiều cao buồng lò chợ. Điều khiển đá vách thuận lợi. An toàn trong quá trình khai thác.
Sau khi tổ chức rút kinh nghiệm, Công ty tiếp tục triển khai chống cột thuỷ lực đơn ở 4 lò chợ và đến năm 2003, 100% (11/11) lò chợ đã đưa cột chống thuỷ lực vào chống thay gỗ. Giảm một số công đoạn trong khai thác, khả năng chịu lực của cột thuỷ lực lớn, lò không bị nén bẹp, công tác phá hoả triệt để hơn, tiết kiệm giảm chi phí gỗ chống lò, Công ty khắc phục được tình trạng thiếu gỗ nhưng quan trọng là đã hạn chế đến mức thấp nhất các sự cố tụt đổ lò chợ gây ra. 11 lò chợ đều hoàn thành vượt mức kế hoạch sản xuất. Năm 2003 sản lượng bình quân của 11 lò chợ là 96.418 tấn/năm, đạt kỷ lục chưa từng có ở Công ty, bằng 116,68% so với sản lượng bình quân năm 2002.
Cùng với việc áp dụng chống cột thuỷ lực đơn, Công ty đã tiến hành áp dụng cũi lợn sắt thay gỗ ở một số lò chợ, khởi đầu ở phân xưởng KT8, KT9 rồi tiếp sau KT6. Bước đầu phải đi mua, đầu năm 2001, Công ty đã tự chế tạo được 60 cỗ cũi lợn sắt, kết cấu của cũi lợn sắt được cải tiến phù hợp với thực tế. Việc áp dụng cũi lợn sắt tạo cho luồng lò được thông thoáng, an toàn, giảm chi phí gỗ, việc thu hồi cũi lợn sắt dễ dàng hơn và tận dụng được sắt thép thu hồi để sử dụng lại, đem lại hiệu quả kinh tế" cao. Mặt khác, dùng thuốc nổ AD1 để đẩy nhanh tốc độ đào lò, tiếp tục áp dụng neo phun bê tông... đạt tốc độ đào lò nhanh của Tổng Công ty than Việt Nam (70m/tháng). Đối với vỉa than độ dốc lớn cánh Tây (KT7) đào thượng đá thay thượng than để đảm bảo an toàn đưa vào khai thác có hiệu quả, Khu vỉa dốc này nhiều năm qua để lại. Đồng thời cải tạo mạng gió nhằm nâng cao công suất, để đưa sản lượng than từ 1.500 tấn lên 3.000 tấn/ngày đêm.
Do áp dụng tiến bộ kỹ thuật công nghệ mới vào khai thác nên mặc dù phải chuyển diện nhiều (do độ dốc của vỉa >500 (KT8), phải đào thượng để tránh phay (KT10), do mưa nhiều (KT2, KT4, KT6, KT7, KT8) nước dột nhưng sản lượng than toàn Công ty vẫn vượt kế" hoạch (năm 2001 đạt 743.699 tấn bằng 106,24% kế" hoạch; năm 2002 đạt 819,140 tấn/800.000 tấn bằng 102,5% kế" hoạch), các đơn vị khai thác 2, khai thác 4, khai thác 8 và khai thác 9 đạt công suất trên 90.000 tấn/năm. Quý IV năm 2002 các đơn vị than hầm lò đã đạt sản lượng 3.000 tấn/ngày, có ngày đạt 3.500 tấn. Sản lượng cao nhất so với các năm trước.
Nhằm tăng nhanh sản lượng, tiết kiệm tài nguyên, cải thiện thương phẩm than, giảm giá thành sản phẩm, ngay từ đầu năm 2001, Công ty đã hoàn tất thủ tục, kỹ thuật, hợp đồng bốc đất đá đối với khai thác lộ vỉa, tranh thủ thời tiết thuận lợi, đầu năm và cuối năm tận dụng năng lực xe máy, huy động tối đa các đầu xe để san gạt và ra than. Nhờ vậy giảm nhiều chi phí tiết kiệm ca xe, bơm thoát nước, nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị. Với ý thức tiết kiệm tài nguyên, các lộ vỉa được khai thác triệt để góp phần vào nâng cao sản lượng than, giảm giá thành của Công ty.
Do có những biện pháp chỉ đạo nhạy bén, kịp thời, sát đúng, sản lượng than nguyên khai của Công ty mỗi năm một tăng: Năm 2002 đạt 1.100.000 tấn; năm 2003 đạt 1.450.000 tấn. Kết quả này là mức kỷ lục chưa từng có kể từ ngày khôi phục mỏ (8-1954). Dự kiến đến năm 2004, sản lượng than nguyên khai của Công ty sẽ đạt 1.500.000 tấn.
Đi đôi với đẩy mạnh khai thác, tăng sản lượng than nhanh, Công ty đẩy mạnh công tác kiến thiết cơ bản, chuẩn bị sản xuất bằng việc, duy trì diện sản xuất hiện có Khu vực -25/+30, đẩy nhanh đào lò xây dựng cơ bản mức -80 tích cực đào lò chuẩn bị, đào thông cúp, cùng với chuyên gia Trung Quốc hoạch định các vùng tài nguyên để mở rộng diện sản xuất mới. Đến tháng 12-2002, đã đưa 4 phân xưởng vào khai thác đạt sản lượng 1.500 tấn/ngày. Tổng số vốn đầu tư xây dựng cơ bản mỗi năm một tăng (năm 2000 thực hiện 18,60 tỷ đồng; năm 2001 thực hiện 19,70 tỷ đồng và năm 2002 thực hiện 51,2 tỷ đồng) và năm 2003 thực hiện 51.146 triệu đồng.
Đồng thời với đẩy mạnh công tác kiến thiết cơ bản Công ty tích cực đầu tư trang thiết bị cho sản xuất. Tập trung nghiên cứu máy cắt liên hợp vào khấu than, tận thu tài nguyên, giảm chi phí vật tư, điện năng; mặt khác, bảo đảm yêu cầu thông gió thoát khí CH4 tránh sự cố, giảm bớt mét lò xén và vận chuyển vật tư thiết bị được thuận lợi. Cuối năm 2001, đã thay sàng BKG bằng sàng TUCR-62 (GI-XL62), tăng tốc băng tải, bề rộng băng, đầu tư thêm thiết bị làm kho bãi, lắp đặt mở rộng dây chuyền sàng sửa chữa đại tu trục tải 2,5 mét giếng phụ, tăng năng lực trục vận tải ở khu vực -80 cho phân xưởng vận tải 2. Tạo điều kiện cho phân xưởng sàng hết than nguyên khai, vận chuyển 3.000 tấn than/ngày và đất đá, vật tư thiết bị. Năm 2002 lắp đặt hệ thống quang lật 3 tấn, máy cấp liệu hệ thống đường sắt và băng tải giếng chính -80 lên bằng sân công nghiệp. Chế tạo bể nổi cho trạm bơm nước vỉa 1A, 9A và vỉa 9 cánh Nam, hệ thống máng rửa xe, cải tạo xây dựng hồ lắng than. Sửa chữa tuyến đường sắt, tuyến vận chuyển chính thay tù vẹt gỗ bằng tù vẹt Bê tông cốt thép và bổ sung đủ tàu điện ắc quy và xe goòng 3 tấn.
Phân xưởng ô tô cũng được trang bị thêm máy gạt TY 220, 19 xe ô tô (KpaZ 6510), một máy xúc lật 21-50C. Đồng thời, sửa chữa các phương tiện vận tải hiện có, tăng cường tổ chức và quản lý xe máy nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng của thiết bị.
Nhà máy Cơ khí Công ty được bổ sung thêm một số thiết bị, sửa chữa cột thuỷ lực, lò nấu thép, máy cuốn vì chống lò... tổ chức lại sản xuất, sắp xếp lại lao động bảo đảm cho công nhân đủ việc làm.
Đẩy mạnh sản xuất đi đôi với tăng cường công tác an toàn, cải thiện điều kiện làm việc, bảo vệ môi trường. Để tránh xảy ra tai nạn lao động, Công ty thường xuyên tổ chức kiểm tra chéo kỹ thuật giữa các phân xưởng, kịp thời bổ sung các biện pháp cho các phân xưởng nên ít xảy ra đổ lò, có lò chợ không để xảy ra một tai nạn nào trong năm. Thực hiện tốt kỹ thuật cơ bản về lắp đặt, sửa chữa, vận hành thiết bị. Nét nổi bật là tập trung bố trí thiết bị máy móc hợp lý, đi sâu vào nền nếp, không để xảy ra sự cố cho người và thiết bị. Mặt khác, tích cực bồi dưỡng huấn luyện quy trình kỹ thuật cho người lao động, biên soạn hàng chục quy trình, quy định vận hành thiết bị và an toàn về công tác cơ điện...
 Để cải thiện điêu kiện làm việc cho công nhân viên Công ty tăng cường quán triệt Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và giáo dục huấn luyện, kiểm tra quản lý kiến thiết cơ bản và vệ sinh an toàn lao động, tổ chức phục vụ cứu hộ, cấp cứu, triển khai hệ thống chống bục nước lò, nâng cấp cải tạo nhà sàng, làm đường bê tông (từ nhà máy cơ khí đến khu 56, nhà sàng đi Bến Cân) và trang bị hệ thống chống bụi. Trang bị tàu chở người (ở mức - 80)... Vì vậy, tai nạn lao động năm 2002 giảm so với năm 2001.
Nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất than tăng đột biến (từ tháng 6-2001) Công ty kịp thời cân đối lập kế hoạch hàng tháng, quý, năm tìm kiếm thêm việc làm (sản xuất, tiêu thụ đá đen, đá Bôxít chế biến than, sản xuất vật liệu xây dựng), giải quyết vấn đê lao động, tiên lương. Có kế hoạch cụ thê thu hồi vật tư, phục hồi thiết bị đưa vào sản xuất hạn chế" mua mới; thường xuyên rà soát vật tư đê kịp thời thanh lý vật tư thiết bị như bán phế liệu giảm giá thành, mua sắm phục vụ sản xuất, tránh tồn kho ứ đọng vốn, đẩy mạnh các hợp đồng kinh tế" với các đơn vị trong và ngoài ngành than.
Đê phù hợp với tình hình sản xuất - kinh doanh Công ty tiếp tục đổi mới công tác quản lý trên nhiêu lĩnh vực.
Công tác tổ chức và cán bộ, năm 2001, đã tiến hành xây dựng chức năng nhiệm vụ của giám đốc, phó giám đốc và kế toán trưởng. Ban hành quy trình đê bạt cán bộ lập quy hoạch cán bộ từ năm 2001 đến 2005, tổ chức học lớp cán bộ kế" cận, kiêm tra định kỳ cán bộ vê chức năng nhiệm vụ, lập kế hoạch đào tạo bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ theo các ngành nghề và học quy trình quy phạm cho hàng nghìn lượt công nhân. Trong quá trình đào tạo chú ý bồi dưỡng kiến thức công nghệ mới và đào tạo nghề cho công nhân kỹ thuật theo tiêu chuẩn than Việt Nam và lao động dôi dư ngoài lò vào làm việc trong lò. Chi phí cho công tác đào tạo mỗi năm hàng tỷ đồng. Việc bố trí, sắp xếp cán bộ đúng trình độ chuyên môn nghiệp vụ nghề nghiệp nhằm hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao. Đi đôi với việc quan tâm đào tạo, bồi dưỡng động viên khen thưởng người lao động, Công ty xử lý nghiêm túc những trường hợp vi phạm nội quy, quy chế, nâng cao hiệu quả công tác và lao động sản xuất.
Công tác định mức tiền lương được xây dựng, bổ sung kịp thời và quản lý chặt chẽ 1.100 mức cho các khâu công việc. Hoàn thiện quy chế" trả lương, lập kế" hoạch phân phối quỹ lương... Bộ phận thống kê kế toán tài chính và kiểm toán được củng cố và kiện toàn, nên việc tập hợp, giám sát các chi phí sản xuất..., thu nợ nhanh để giảm nợ ngân hàng, trả lương, cân đối tài chính, giải quyết chế độ cho người lao động thuận lợi. Công tác kiểm toán đã từng bước giúp các phân xưởng và Công ty khắc phục những tồn tại sai sót trong quá trình thực hiện các quy định của Đảng, nhà nước và Tổng Công ty than Việt nam.
Sản xuất phải đi liền với bảo vệ thành quả đã đạt được, Công ty đã xây dựng phương án bảo vệ tài sản, tài nguyên, tiếp tục triển khai mô hình tự quản để nâng cao ý thức trách nhiệm của công nhân viên chức, tăng cường lực lượng quản lý, giữ gìn an ninh chính trị trật tự an toàn trên địa bàn Công ty quản lý. Những vụ đào than trái phép, trộm than, phát hiện công nhân sử dụng ma tuý và những trường hợp vi phạm nội quy của Công ty đã được xử lý nghiêm minh. Các đơn thư gửi đến được giải quyết cụ thể, thoả đáng và dứt điểm.
Tiêu thụ sản phẩm là một nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa quyết định đến kết quả sản xuất kinh doanh. Nhận thức sâu sắc vấn đề này, lãnh đạo Công ty đã chủ trương kịp thời đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm, đẩy mạnh tiếp thị để chiếm lĩnh thị trường các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Mặt khác, rất coi trọng chất lượng từ khâu khai thác đến sàng tuyển, phân loại, chế biến bảo đảm tiêu chuẩn nhà nước, tiêu chuẩn ngành quy định, đầu tư thêm dây chuyền BKG (KT6); lắp mới sàng có công suất lớn TVCR-62 (GI-XL62) thay cho sàng BKG; Mở rộng các kho than, bến bãi, tăng cường hệ thống vận tải; có phương pháp bán hàng hợp lý như hướng dẫn và trách nhiệm với sản phẩm bán ra cho khách hàng, kiên quyết với những trường hợp gây nhũng nhiễu, phiền hà với khách hàng, tạo mọi điều kiện cho khách hàng lấy hàng thuận lợi... Mặt khác, do yêu cầu xã hội cần nhiều than hơn trước, chính sách kích cầu của Đảng, nhà nước đã thúc đẩy ngành sản xuất vật liệu xây dựng phát triển tạo điều kiện cho sản xuất than đi lên.
Sản xuất - kinh doanh phát triển, lo đủ việc làm ổn định cho hơn 5.000 người, thu nhập bình quân của cán bộ công nhân viên ngày một nâng lên, năm 2000 là: 976.000đồng/ người/tháng, thì năm 2002 là: 1.547.000 đồng/người/tháng. Năm 2003 là 1.800.000 đ/tháng/người, 6 tháng đầu năm 2004 là: 2.100.000đ/người/tháng. Những năm gần đây, công tác chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động được lãnh đạo Công ty rất quan tâm đặc biệt là từ năm 2002, đối tượng hàng đầu là đội ngũ thợ lò. Mỗi năm đã chi gần chục tỷ đồng bằng hiện vật cho các bữa ăn giữa ca và sau ca. Tổ chức khám định kỳ cho những người lao động trong môi trường nặng nhọc, độc hại. Giám định thương tật cho những người bị tai nạn lao động. Tổ chức cho công nhân và những người bị tai nạn lao động đi điều trị và dưỡng bệnh nghề nghiệp, thăm hỏi giúp đỡ những gia đình khó khăn, thuộc đối tượng chính sách. Ký hợp đồng bảo hiểm thân thể, tổ chức đi tham quan cho công nhân viên chức, trang cấp đầy đủ bảo hộ cho người lao động. Trợ giúp kịp thời và sắp xếp công việc hợp lý cho những người sức khoẻ yếu. Xây dựng một số công trình như: Nhà ăn, nhà ở, nhà làm việc, nhà tắm, nhà giặt và hong phơi quần áo, nhà để xe máy, sửa chữa nâng cấp bệnh viện, nhà ăn ở tập thể hoàn thiện các hệ thống đường bê tông nối liền trong Công ty để phục vụ sản xuất và đời sống cán bộ công nhân. Mỗi năm chi hàng tỷ đồng cho các dự án cải tạo môi trường trong khu vực mỏ được địa phương cùng tham gia ủng hộ.
Vừa tích cực đẩy mạnh sản xuất, nâng cao đời sống, cán bộ công nhân viên Công ty tham gia đóng góp vào quỹ từ thiện, quỹ văn hoá, quỹ hỗ trợ người nghèo, ủng hộ đồng bào lũ lụt, vùng sâu vùng xa với số tiền hàng trăm triệu đồng. Đoàn thanh niên Công ty phối hợp với đoàn thanh niên địa phương và nhà trường giáo dục thiếu niên nhi đồng khu vực, thường xuyên động viên các em học giỏi, làm nhiều việc tốt... tham gia vào việc chống tệ nạn xã hội, nghiện hút, giữ gìn an ninh trật tự xã hội.
Với những thành tích đã đạt được, Đảng bộ, Công đoàn Công ty nhiều năm được cấp trên công nhận là cơ sở vững mạnh, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng cờ vững mạnh xuất sắc. Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh Công ty được Trung ương đoàn tặng cờ cơ sở vững mạnh 5 năm liền (1997-2003).
(Còn tiếp....)

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Thành viên
Hãy đăng nhập thành viên để trải nghiệm đầy đủ các tiện ích trên site
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập16
  • Máy chủ tìm kiếm2
  • Khách viếng thăm14
  • Hôm nay913
  • Tháng hiện tại45,583
  • Tổng lượt truy cập2,514,813
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây